Chuyên mục "stxdđ"

 

Xây dựng Đảng về đạo đức, một yêu cầu mới trong công tác xây dựng Đảng

Các đồng chí lãnh đạo TPHCM chúc mừng các tập thể và cá nhân thực hiện tốt việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh năm 2018 - 2019. (Ảnh: Báo Người lao động)

(Stxdd.thanhuytphcm.vn) Nội dung xây dựng Đảng về đạo đức đã được chính thức đề cập trong văn kiện Đại hội XIII của Đảng. Một trong những thành tựu của nhiệm kỳ 2016 – 2021 được Đại hội nêu là “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đặc biệt chú trọng, được tiến hành toàn diện, đồng bộ, có hiệu quả trên tất cả các mặt chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Bài học đầu tiên trong nhiệm kỳ Đại hội XII cũng liên quan đến nội dung này: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Như vậy, với việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII “Về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, các chỉ thị về việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, cùng nhiều quy định khác, công tác xây dựng Đảng về đạo đức đã có những chuyển biến tích cực.

Tuy nhiên, Đại hội XIII cũng đặt vấn đề cần tiếp tục thực hiện có hiệu quả hơn nữa công tác xây dựng Đảng nói chung và công tác xây dựng Đảng về đạo đức nói riêng. Đó là phải “tập trung xây dựng Đảng về đạo đức, tích cực đấu tranh phòng chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực; ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ gắn với đẩy mạnh học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy thật tốt trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo phương châm chức vụ càng cao càng phải gương mẫu”.

Cũng cần nhắc lại rằng, văn kiện Đại hội XII của Đảng có hơn 40 lần nhắc đến từ “đạo đức” nhưng chưa lần nào đề cập nội dung xây dựng Đảng về đạo đức. Điều đó cho thấy, xây dựng Đảng về đạo đức là một nội dung mới, chỉ được nêu lên gần đây. “‘Xây dựng Đảng về đạo đức’ được coi là một điểm nhấn, điểm mới trong nội dung xây dựng Đảng, là một sự bổ sung cần thiết trong đổi mới tư duy về xây dựng Đảng hiện nay. Bởi trước đây Đảng thường nhấn mạnh xây dựng Đảng trên 3 mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức mà ít nói tới mặt đạo đức”[1].

Đặt ra vấn đề xây dựng Đảng về đạo đức là Đảng ta đã nhìn nhận có những vấn đề chưa ổn về mặt đạo đức của Đảng nói chung và của một bộ phận cán bộ, đảng viên nói riêng. Từ Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, Đảng ta đã nhận rõ những biểu hiện suy thoái về nhiều mặt, trong đó có vấn đề đạo đức, cần phải được quyết liệt chấn chỉnh, khắc phục. “Thực tế hiện nay cho thấy, càng đi vào đổi mới, phát triển kinh tế thị trường, mở cửa, hội nhập quốc tế, lại càng phải xây dựng Đảng về đạo đức. Đây là một trong bốn mục tiêu bảo đảm thành công đối với công tác xây dựng Đảng, làm cho Đảng đủ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu”[2]. Bởi theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng ta là đại biểu cho trí tuệ, danh dự, lương tâm của dân tộc, nên Đảng phải là đạo đức, là văn minh. Điều này đã được Người nêu từ hơn nửa thế kỷ trước và đến hôm nay vẫn còn nguyên giá trị.

Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu 3 nguyên tắc cơ bản mà cũng có thể xem là 3 nội dung quan trọng trong xây dựng Đảng về đạo đức mà mỗi cán bộ, đảng viên cần quan tâm để thực hiện và động viên người khác thực hiện. Một là, nói đi đôi với làm, phải nêu gương về đạo đức. Nói đi đôi với làm trước hết là sự nêu gương tốt, trong đó, có sự làm gương của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, cha mẹ làm gương cho con cái, ông bà làm gương cho con cháu, lãnh đạo làm gương cho cán bộ, nhân viên... Đây thực sự là phương thức giáo dục đạo đức phổ biến và hiệu quả nhất. Đặc biệt, đảng viên phải làm gương trước quần chúng, trong công tác, trong sinh hoạt, ở nơi làm việc, ở nơi cư trú.

Hai là, xây đi đôi với chống. Xây dựng đạo đức phải được tiến hành bằng giáo dục, từ gia đình đến nhà trường, trong tập thể và toàn xã hội. Trong đấu tranh, phải chống lại cái tiêu cực, lạc hậu của bản thân, của những người xung quanh, của xã hội, mà trước hết phải chống chủ nghĩa cá nhân; không chống được cái hạn chế, cái tiêu cực của bản thân thì không thể chống cái lạc hậu, trì trệ của người khác. Xây và chống có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và hỗ trợ nhau.

Ba là, phải tu dưỡng đạo đức suốt đời. Hồ Chí Minh khẳng định, đạo đức cách mạng phải qua đấu tranh, rèn luyện bền bỉ mới thành. Bởi trên thực tế, mỗi người ai cũng có chỗ hay, chỗ dở, chỗ xấu, chỗ tốt, ai cũng có thiện, có ác ở trong mình; vì vậy, nhìn thẳng vào con người mình, thấy rõ cái hay, cái tốt để phát huy và thấy rõ cái dở, cái xấu để khắc phục.

Cùng với đó, để xây dựng Đảng về đạo đức đạt kết quả như mong muốn, cần phải thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, cần phải trung thành với những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lênin, phải biết vận dụng đúng đắn, sáng tạo và phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của cách mạng Việt Nam trong từng giai đoạn. Đảng phải kiên trì bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, tích cực đấu tranh chống những biểu hiện sai trái, nhất là xuyên tạc, xét lại chủ nghĩa Mác - Lênin. Đồng thời, mỗi tổ chức đảng và đảng viên phải thực hiện tốt các nguyên tắc tổ chức và sinh hoạt đảng, bao gồm tập trung dân chủ (nguyên tắc cơ bản trong xây dựng Đảng), tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách (nguyên tắc lãnh đạo của Đảng), tự phê bình và phê bình (nguyên tắc sinh hoạt của Đảng), kỷ luật nghiêm minh và tự giác (là quy luật phát triển sức mạnh của Đảng), đoàn kết thống nhất trong Đảng (là nguyên tắc quan trọng của Đảng)…

Song song đó, quan tâm xây dựng, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên có đức, có tài để Đảng xứng đáng “là đạo đức, là văn minh”. Trong đó, yêu cầu về phẩm chất, tư cách của đội ngũ cán bộ, đảng viên là suốt đời phấn đấu hy sinh cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng; tuyệt đối trung thành với Đảng, với sự nghiệp cách mạng; đặt quyền lợi của Đảng, của Tổ quốc lên trên hết và lên trước hết; thường xuyên tu dưỡng, rèn luyện đạo đức cách mạng... Yêu cầu về năng lực của cán bộ, đảng viên là phải có năng lực lãnh đạo, tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có mối liên hệ mật thiết với nhân dân; luôn học tập để nâng cao trình độ về mọi mặt… Trong việc giữ mối quan hệ gắn bó giữa Đảng và dân, mỗi đảng viên phải bằng hành động thực tế của mình để có niềm tin yêu của nhân dân; phải không ngừng nâng cao đời sống của nhân dân; thường xuyên lắng nghe ý kiến của nhân dân, hiểu rõ tâm tư, nguyện vọng của nhân dân...

Cuối cùng, Đảng phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, như lời dặn dặn của Bác Hồ trong Di chúc là “việc cần phải làm trước tiên là chỉnh đốn lại Đảng”. Đảng phải luôn chú trọng công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức, phương thức lãnh đạo, đạo đức, lối sống...; đề phòng và khắc phục những biểu hiện tiêu cực, thoái hóa, biến chất; luôn quan tâm giáo dục, rèn luyện đội ngũ cán bộ, đảng viên trong việc thực hiện lý tưởng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; phải phát huy dân chủ trong nội bộ, phát huy và tập hợp được trí tuệ của toàn Đảng, phấn đấu thực sự trở thành “đạo đức, văn minh”…

Vân Tâm

--------------------------

[1] Hà Đăng, Xây dựng Đảng về đạo đức - món quà xuân quý giá, Tạp chí Xây dựng Đảng điện tử, ngày 7-1-2020.

[2] PGS.TS. Bùi Đình Phong, Xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam về đạo đức - yêu cầu cấp thiết trong giai đoạn cách mạng mới, Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 1-4-2020.

Vân Tâm

Học bác Hồ trồng cây Xanh

Các đồng chí lãnh đạo thành phố trồng cây trong khuôn viên Trường Đại học Kinh tế - Luật (Đại học Quốc gia TPHCM) tại Lễ phát động Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ và tổng vệ sinh môi trường, phát triển mảng xanh năm 2020, nhân kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 - 19/5/2020). (Ảnh: Báo Lao động)

(Stxdd.thanhuytphcm.vn) - Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói một câu rất nổi tiếng: Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây; vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người. Đây là lời của Người khi Người đến dự và phát biểu tại lớp học chính trị của giáo viên cấp II, cấp III toàn miền Bắc, ngày 13/9/1958. Một số người hay bỏ chữ “thì phải”; khi lược 2 chữ này đi thì ý nghĩa của câu nói khác đi rất nhiều.

Về “trồng người”, Hồ Chí Minh là một bậc thầy về giáo dục và định hướng giáo dục. Quan điểm về giáo dục của Người xứng đáng là những “khuôn vàng thước ngọc” cho tất cả các thầy cô, các nhà quản lý giáo dục. Còn quan điểm về “trồng cây” của Người cũng rất đáng để chúng ta học tập bởi không chỉ có tính thiết thực, cụ thể mà còn vượt thời đại.

Yêu cầu về trồng cây xanh được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu lên trong bài “Tết trồng cây”, đăng trên báo Nhân dân ngày 28/11/1959. Bài viết nêu rõ, “để kỷ niệm ngày thành lập Đảng, tất cả nhân dân miền Bắc mỗi người phụ trách trồng một hoặc vài ba cây và chăm sóc cho tốt. Miền Bắc ta có độ 14 triệu, trong số đó độ 3 triệu là trẻ em thơ ấu, còn 11 triệu người từ tám tuổi trở lên đều có thể trồng cây. Ngay từ bây giờ chúng ta phải chuẩn bị đầy đủ cho “Tết trồng cây”, ví dụ: bộ nông lâm, các ty nông lâm và các đoàn thể cần phải ươm đủ giống cây; ủy ban hành chính các địa phương phải có kế hoạch trồng cây gì, trồng ở đâu... Như vậy, mỗi Tết trồng được độ 15 triệu cây. Từ năm 1960 đến 1965 (là năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất), chúng ta sẽ có 90 triệu cây, vừa cây ăn quả, cây có hoa, vừa cây làm cột nhà. Và trong mươi năm, nước ta phong cảnh sẽ ngày càng tươi đẹp hơn, khí hậu điều hòa hơn, cây gỗ đầy đủ hơn. Điều đó sẽ góp phần quan trọng vào việc cải thiện đời sống của nhân dân ta...”. Những ý tưởng và lời dặn dò của Bác vô cùng sâu sắc và thiết thực; đó là: gần như mọi người đều có thể trồng cây, muốn việc trồng cây đạt kết quả tốt thì phải có kế hoạch và có sự chuẩn bị chu đáo, trồng nhiều cây có ý nghĩa to lớn về đời sống và khí hậu, gắn việc trồng cây với việc thực hiện kế hoạch 5 năm, trồng cây phải gắn với chăm sóc cây tốt… Từng điều ấy, liệu bao nhiều năm qua chúng ta đã thực hiện ra sao rồi?

Mùa xuân Canh Tý 1960, Bác đến Công viên Thống Nhất tham gia cùng nhân dân thủ đô trồng cây. Cũng trong năm này, Bác viết hai câu thơ nổi tiếng: “Mùa xuân là Tết trồng cây, Làm cho đất nước càng ngày càng xuân”. Bác khuyên khi mùa xuân tới, mỗi người nên trồng một cây xanh để góp phần làm cho quê hương, đất nước ngày càng tươi đẹp. Năm 1961, nói chuyện với nhân dân đảo Cô Tô (Quảng Ninh), Người căn dặn: Cần trồng nhiều cây ăn quả, cây lấy gỗ, cây ngăn gió. Trồng cây sẽ đưa lại cho nhân dân ta một nguồn lợi to lớn, lại làm cho xứ sở ta thêm đẹp. Trong bài Hãy nhiệt liệt tổ chức tết trồng cây đăng trên báo Hà Đông năm 1965, Người viết: “Muốn xây dựng nông thôn mới. Việc đầu tiên của nông thôn mới là xây dựng lại nhà ở cho đàng hoàng. Muốn vậy thì ngay từ bây giờ phải trồng cây nhiều và tốt để lấy gỗ. Chỉ có việc đó cũng đủ thấy cần phải đẩy mạnh phong trào Tết trồng cây”. Trong bài Tết trồng cây viết năm 1969, Bác Hồ dặn: “Tết trồng cây là ngày mở đầu cho việc trồng cây suốt cả năm, đã trở thành một tục lệ tốt đẹp của nhân dân ta”. Người kêu gọi: “Năm nay, chúng ta thi đua trồng cây cho thật tốt, phải bảo đảm trồng cây nào tốt cây ấy, tổ chức ‘một Tết trồng cây quyết thắng giặc Mỹ xâm lược’”.

Để định hướng  phong trào, trong hơn 10 năm, Bác đã có 15 bài viết, bài nói có liên quan đến hoạt động trồng cây, trồng rừng. Và từ năm 1959, Tết trồng cây đã trở thành một phong tục mới của dân tộc ta trong những ngày xuân, được duy trì cho đến hiện nay.

Hàng năm cứ mỗi dịp Tết đến, Người thường tham gia cùng nhân dân trồng cây. Đến bất kỳ địa phương nào có dịp Bác lại tham gia trồng cây. Năm 1969, dù sức khỏe đã yếu nhưng sáng mùng 1 Tết Kỷ Dậu, Bác vẫn đến chúc tết một số đơn vị và trồng cây lưu niệm tại đồi Vật Lại, huyện Ba Vì. Và trong bản Di chúc, liên quan đến “việc riêng”, Người còn căn dặn: “Nên có kế hoạch trồng cây trên đồi. Ai đến thăm thì trồng một cây làm kỷ niệm. Trồng cây nào phải tốt cây ấy. Lâu ngày, cây nhiều thành rừng, sẽ tốt cho phong cảnh và lợi cho nông nghiệp”…

Nhân dịp kỷ niệm 130 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh (19/5/1890 – 19/5/2020), thành phố mang tên Bác đã tổ chức Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ”. Trong dịp này, toàn thành phố đã trồng hàng ngàn cây xanh ở một số khu vực trồng cây tập trung và ở các địa phương, cơ quan, đơn vị theo điều kiện cụ thể của mình. Thành phố cũng khuyến khích người dân tự trồng cây xanh ở nhà mình vừa tạo mảng xanh vừa góp phần cải thiện môi trường sống. Trong năm 2020, thành phố đã trồng được khoảng 1 triệu cây xanh các loại. Đối với TPHCM, trồng cây xanh có ý nghĩa rất quan trọng, bởi đây là đô thị lớn, mật độ dân cư dày, có rất nhiều phương tiện giao thông… Mỗi cây xanh trồng được sẽ góp thêm vào mảng xanh của thành phố, giúp cải thiện môi trường sống, có tác động tích cực đến việc nâng cao nhận thức của mỗi người dân về bảo vệ và cải thiện môi trường…

Ngay sau tết Tân Sửu 2021, TPHCM cùng nhiều địa phương trên cả nước đã tổ chức Lễ phát động “Tết trồng cây đời đời nhớ ơn Bác Hồ” và hưởng ứng Chương trình trồng 1 tỷ cây xanh giai đoạn 2021 - 2025 do Thủ tướng Chính phủ phát động trong Chỉ thị số 45/CT-TTg ngày 31/12/2020 về tổ chức phong trào “Tết trồng cây” và tăng cường công tác bảo vệ, phát triển rừng.

Thực hiện Chỉ thị 45, việc tổ chức Tết trồng cây phải thiết thực, hiệu quả, không phô trương hình thức; tạo điều kiện để các cơ quan, tổ chức, đoàn thể, trường học, lực lượng vũ trang và mọi tầng lớp nhân dân tích cực tham gia trồng cây, trồng rừng... Có như vậy, hoạt động này mới thực sự có ý nghĩa thiết thực.

Học tập Bác Hồ, trong việc trồng cây xanh, các cơ quan chức năng cần có kế hoạch thật cụ thể, khoa học, như trồng ở khu vực nào, ở đó thì nên trồng loại cây gì cho phù hợp, số lượng cụ thể bao nhiêu để cây phát triển tốt, ai sẽ chăm sóc, gìn giữ… Hay việc động viên các cơ quan và người dân trồng cây xanh cũng phải hướng đến sự thực chất, như trồng cây phải bảo đảm cây phát triển tốt, tránh làm theo phong trào, hình thức, tránh trồng cây với thái độ đối phó… Các cơ quan chức năng cần có biện pháp xử lý nghiêm khắc hành vi phá hoại cây xanh, nhất là cây trồng trên vỉa hè, vốn hay bị một số người giết hại để lấy chỗ buôn bán. Đồng thời, với những cây có tán lớn, cần có biện pháp tỉa cành, che chống phù hợp để tránh gãy đổ, nhất là trong mùa mưa.

Trúc Giang

 

Tìm hiểu về không gian văn hóa và không gian văn hóa Hồ Chí Minh

TPHCM thường xuyên tổ chức những chuyến về nguồn thăm làng Sen quê Bác, tìm hiểu về cuộc đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Trong ảnh: Đoàn đại biểu TPHCM nghe thuyết minh về cuộc đời, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh. (Ảnh: Mai Trần)

(Thanhuytphcm.vn) - Hiện nay, chưa có một định nghĩa được thống nhất về không gian văn hóa với nghĩa rộng nhất của nó. Còn theo nghĩa hẹp, hiện nay cụm từ này thường được sử dụng để chỉ những khu vực, môi trường có các hoạt động văn hóa hoặc gắn với văn hóa, như không gian văn hóa công cộng (nơi dành cho nhiều người vui chơi, giải trí), không gian văn hóa kiến trúc (nơi tập trung nhiều nét đặc sắc về kiến trúc), không gian văn hóa cồng chiêng (nơi tập trung nhiều hoạt động có sử dụng cồng chiêng và các yếu tố gắn liền với nó), không gian văn hóa du lịch, thương mại (nơi có nhiều nét đặc sắc về văn hóa gắn với hoạt động du lịch, thương mại…), không gian văn hóa nghệ thuật (nơi tập trung nhiều loại hình nghệ thuật và các yếu tố gắn liền với nó)…

Trên cơ sở các cách hiểu về khái niệm này, chúng ta có thể hình dung được không gian văn hóa là môi trường văn hóa đặc sắc gắn liền với một không gian cụ thể nào đó, một vùng lãnh thổ cụ thể nào đó, một cộng đồng người cụ thể nào đó, trong một khoảng thời gian cụ thể nào đó…

Trước hết, không gian văn hóa gắn liền với lãnh thổ nhưng có sự linh hoạt nhất định. Thí dụ, khi nói đến không gian văn hóa Việt Nam, chúng ta cơ bản thống nhất đó là vùng lãnh thổ ổn định, được duy trì trong một thời gian dài của người Việt Nam, nhưng không nhất thiết xác định rõ lãnh thổ đó vào thế kỷ XV (vốn cơ bản bao gồm vùng Bắc Trung bộ trở ra Bắc) hay vào thế kỷ XVII (với phần lãnh thổ cơ bản từ Nam Trung bộ trở ra Bắc) hay vùng lãnh thổ hiện nay. Như vậy, việc xác định không gian văn hóa Hồ Chí Minh ở TPHCM thì trước tiên phải gắn với phần lãnh thổ về mặt địa giới hành chính ở TPHCM hiện nay, đồng thời có thể nhìn rộng hơn với các khu vực lân cận.

Không gian văn hóa còn gắn với một cộng đồng dân cư cụ thể, với những đặc điểm về dân số, trình độ, điều kiện kinh tế, tập quán, tôn giáo, dân tộc… Đây là các yếu tố hết sức quan trọng để tạo nên bản sắc của một không gian văn hóa, bởi các dân tộc khác nhau, các nhóm cư dân có điều kiện kinh tế khác nhau, các tín đồ tôn giáo khác nhau… thì sẽ hình thành những đặc trưng về văn hóa riêng. Chẳng hạn, cùng là trồng lúa, nhưng nhóm dân cư trồng lúa nước sẽ có văn hóa khác với nhóm dân cư trồng lúa cạn; cùng là các tín đồ tôn giáo, nhưng người theo đạo Phật sẽ có văn hóa khác với người theo đạo Hồi; cùng sống trên một lãnh thổ có điều kiện kinh tế giống nhau nhưng các dân tộc khác nhau thì có văn hóa khác nhau… Đây có thể coi là yếu tố “đầu vào” của một không gian văn hóa. Do đó, nói không gian văn hóa Hồ Chí Minh ở TPHCM sẽ có điểm khác với không gian văn hóa Hồ Chí Minh ở Hà Nội, Đà Nẵng hay Cà Mau…

Đảng bộ TPHCM đã xác định sẽ xây dựng Thành phố trở thành một không gian văn hóa Hồ Chí Minh, nơi tư tưởng, đạo đức, phong cách và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hiện hữu thường xuyên... (Ảnh minh họa. Ảnh: Mai Trần)Đảng bộ TPHCM đã xác định sẽ xây dựng Thành phố trở thành một không gian văn hóa Hồ Chí Minh, nơi tư tưởng, đạo đức, phong cách và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hiện hữu thường xuyên... (Ảnh minh họa. Ảnh: Mai Trần)

Vận dụng quan điểm duy vật biện chứng, các sự vật, hiện tượng đều có tính lịch sử cụ thể. Do đó, không gian văn hóa Hồ Chí Minh ở TPHCM năm 2020 sẽ có nhiều điểm khác với không gian văn hóa Hồ Chí Minh ở TPHCM vào năm 2030, do những thay đổi về các yếu tố “đầu vào”. Sự thay đổi này phần nhiều là tự nhiên, do sự biến động của các yếu tố mang tính khách quan, như kinh tế, dân số, môi trường sống…, cùng những tác động nhất định của thượng tầng kiến trúc, như pháp luật, tư tưởng…

Văn kiện Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã xác định phương hướng: “Xây dựng TPHCM trở thành một không gian văn hóa Hồ Chí Minh, nơi tư tưởng, đạo đức, phong cách và sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn hiện hữu thường xuyên, trở thành tài sản tinh thần, giá trị văn hóa đặc trưng của người dân, cán bộ, đảng viên của thành phố mang tên Bác”. Điều này có nghĩa rằng, tại địa bàn TPHCM sẽ dần hình thành một không gian văn hóa mang tên Hồ Chí Minh với những đặc điểm, tính chất, giá trị riêng, gắn liền với các đặc điểm, tính chất, giá trị của Chủ tịch Hồ Chí Minh (về tư tưởng, đạo đức, phong cách…) và của người dân thành phố mang tên Bác. Tức là, trên cơ sở đặc điểm về điều kiện kinh tế, văn hóa, lịch sử, tập quán… của mình, người dân TPHCM sẽ tiếp biến và phát triển các nét đặc sắc về tư tưởng, đạo đức, phong cách… của Chủ tịch Hồ Chí Minh để trở thành giá trị riêng của người dân thành phố.

Thí dụ, ở không gian văn hóa Hồ Chí Minh tại TPHCM, nhất định phải có đời sống kinh tế phát triển ở mức cao; chất lượng sống của người dân phải được bảo đảm; việc thực hành các giá trị về tư tưởng, đạo đức, phong cách… của Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được thực hiện thường xuyên và đạt được hiệu quả cụ thể; lòng yêu kính đối với cá nhân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và sự nghiệp vĩ đại của Người phải được thể hiện rõ nét trong nhận thức, hành động…

Khu vực trước Công viên Tượng đài Bác trên phố đi bộ Nguyễn Huệ. (Ảnh minh họa. Ảnh: Hoàng Vân)Khu vực trước Công viên Tượng đài Bác trên phố đi bộ Nguyễn Huệ. (Ảnh minh họa. Ảnh: Hoàng Vân)

Ở không gian văn hóa Hồ Chí Minh, trong các hoạt động phục vụ nhân dân, đội ngũ cán bộ công chức phải tự giác thực hành quan điểm của Người là “việc gì có lợi do dân phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân phải hết sức tránh”. Hay ý thức thực hiện các biểu hiện đạo đức cách mạng gồm cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư luôn được tự giác thực hiện và xem đó là công việc thường xuyên của tất cả mọi người, chứ không cần cân nhắc điều đó có lợi gì cho bản thân thì mới thực hiện.

Khi văn nghệ sĩ sáng tác một tác phẩm về Bác Hồ, phải thực sự xuất phát từ tấm lòng yêu kính của bản thân đối với Bác, chính sự rung động đã chuyển hóa thành con chữ, thành nốt nhạc, thành ca từ… Có nghĩa là, mọi thứ cảm nhận về Bác, làm theo Bác đã đi vào chiều sâu, đã thấm vào từng tế bào và sẽ “bật ra” một cách tự nhiên thành hành động, thành lời nói, thành tác phẩm…

Dĩ nhiên, đó là mức độ có thể coi là rất cao về không gian văn hóa Hồ Chí Minh, một khi đã được triển khai thực hiện dài lâu, bằng nhiều cách thức phù hợp, bằng sự hưởng ứng của đông đảo người dân thành phố. Điều đó hoàn toàn không phải thoát ly thực tiễn bởi các biểu hiện về nhận thức, tình cảm, hành động… liên quan đến Hồ Chí Minh của người dân thành phố hiện đã hình thành những đặc điểm rất tiến bộ, nhất là sau gần 15 năm thực hiện các chỉ thị của Trung ương về việc học tập và làm theo gương Bác.

Chính văn kiện Đại hội XI của Đảng bộ Thành phố đã nêu: “Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, hình thành không gian văn hóa Hồ Chí Minh. Phát huy đặc trưng, văn hóa, tính cách của con người thành phố luôn năng động, sáng tạo, đi đầu, dám chấp nhận thử thách, nhân ái, nghĩa tình”. Điều này khẳng định, hình thành không gian văn hóa Hồ Chí Minh gắn liền với các đặc điểm riêng có của thành phố đã được hun đúc, kết tinh và biểu hiện qua thực tiễn, như các yếu tố năng động, sáng tạo, đi đầu, dám chấp nhận thử thách, nhân ái, nghĩa tình… Tức là, cần tiếp tục làm đậm, làm dày hơn các yếu tố đó kết hợp với việc tiếp tục học tập và làm theo gương Bác có chiều sâu thì sẽ hình thành không gian văn hóa Hồ Chí Minh tại thành phố mang tên Người!

Vân Tâm

 

Những dấu ấn quan trọng trong năm 2020 của Đảng bộ TPHCM

Ban Chấp hành Đảng bộ TPHCM nhiệm kỳ 2020 - 2025 ra mắt Đại hội

(Stxdd.thanhuytphcm.vn) - Năm 2020 là một năm đầy khó khăn đối với thế giới cũng như Việt Nam. Trong bối cảnh đó, TPHCM vẫn để lại nhiều dấu ấn quan trọng, đáng chú ý, tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bộ, sự tiên phong, gương mẫu của các đảng viên…

Lãnh đạo công tác phòng chống dịch Covid-19 có hiệu quả

Năm 2020 nổi bật với tình hình dịch Covid-19 lây lan toàn cầu. Tại TPHCM, một trong những địa phương có người nhiễm từ rất sớm, lãnh đạo thành phố đã có chỉ đạo kịp thời, quyết liệt như thực hiện việc truy vết các trường hợp có liên quan, tổ chức cách ly… và đạt được nhiều kết quả rất tích cực.

TPHCM thường xuyên có người nhập cảnh, người đến từ các địa phương khác, có lúc, thành phố đã huy động nhiều cơ sở để tổ chức cách ly tập trung cho người đến từ vùng dịch hoặc nhập cảnh từ nước ngoài. Ngoài các bệnh viện dã chiến, một số cơ sở giáo dục, trong đó có khu Ký túc xá Đại học Quốc gia TPHCM, đã được chuyển đổi thành nơi nhận cách ly, trong dịp cao điểm có hàng ngàn người. Nhờ đó, tình hình dịch bệnh cơ bản được khống chế tốt, dù trong một số thời điểm nhất định có người lây nhiễm trong cộng đồng.

Thành phố cũng rất quan tâm đến việc tạo điều kiện tốt nhất trong công tác phòng chống dịch và bảo vệ an toàn cho đội ngũ y bác sĩ, những người ở tuyến đầu chống dịch. Trong các đợt dịch bùng phát mạnh, thành phố còn cử nhiều đoàn y bác sĩ đến hỗ trợ tại một số địa phương có dịch đang lây lan.

Công tác tuyên truyền, vận động người dân thực hiện các biện pháp phòng chống dịch được cả hệ thống chính trị tập trung thực hiện. Bên cạnh việc phát tờ rơi, truyền thanh, báo chí, mạng xã hội…, các địa phương còn chú ý việc tuyên truyền thông qua các ứng dụng trên điện thoại, các hộp quảng cáo ngoài trời, ở khu vực công cộng, bến xe, thang máy chung cư… Nhờ đó, cơ bản người dân nhận thức được tình hình và tích cực thực hiện các biện pháp phòng chống dịch.

Tổ chức thành công đại hội đảng các cấp

Ngay từ đầu năm, việc tổ chức đại hội đảng các cấp đã được tập trung thực hiện, đồng bộ cả khâu tổ chức đại hội lẫn việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị, cả khâu xây dựng văn kiện lẫn công tác nhân sự, việc tổ chức các hoạt động chào mừng đại hội lẫn việc lan tỏa tinh thần đại hội ra nhân dân… Xen giữa các đợt dịch, trong điều kiện cho phép, một số tổ chức đảng đã tổ chức thành công đại hội với nhiều hình thức phù hợp nhưng vẫn bảo đảm nguyên tắc của cơ quan lãnh đạo cao nhất của tổ chức đảng. Nhờ vậy, tuyệt đại đa số các đại hội đảng đã diễn ra thành công tốt đẹp.

Tháng 10-2020, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XI đã diễn ra trong bối cảnh tình hình dịch bệnh cơ bản được khống chế. Đại hội đã xác định được nhiều điểm mới nổi bật, có ý nghĩa định hướng cho sự phát triển của thành phố, không chỉ trong nhiệm kỳ mà còn nhiều năm sau nữa. Đó là khẳng định tinh thần “vì nhân dân” trong tất cả các mục tiêu, định hướng phát triển thành phố; đó là đề cao tính nêu gương trong đội ngũ cán bộ, đảng viên trong toàn Đảng bộ; đó là phát huy yếu tố “vì cả nước, cùng cả nước” của thành phố trong tiến trình phát triển; đó là đề ra một giải pháp mới về xây dựng không gian văn hóa Hồ Chí Minh tại thành phố mang tên Người…

Lãnh đạo duy trì tăng trưởng kinh tế, giữ vững trật tự an toàn xã hội

Trong bối cảnh suy thoái kinh tế nghiêm trọng do đại dịch Covid-19, kinh tế thành phố chịu ảnh hưởng rất nặng nề, bởi nhiều ngành dịch vụ bị ngưng trệ, vốn chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu kinh tế thành phố, đặc biệt là du lịch, vận tải… Tuy vậy, tăng trưởng kinh tế trong năm 2020 của thành phố đạt 1,39%; thu ngân sách đạt hơn 85% dự toán và vẫn giữ vị trí đứng đầu cả nước; tính đến tháng 10, thành phố có hơn 29.500 doanh nghiệp giải thể và tạm ngưng hoạt động, kéo số vốn đăng ký xuống gần 150.000 tỉ đồng, nhưng trong khoảng thời gian này cũng có gần 33.500 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 41,6% so với cùng kỳ…

Dù kinh tế có khó khăn nhưng tình hình trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Trong một số thời điểm nhất định, dịch bệnh có làm tâm lý một bộ phận người dân dao động, dẫn đến các tin đồn thất thiệt, nhất là liên quan đến tình hình lương thực, thực phẩm, lãnh đạo thành phố đã chỉ đạo kịp thời các cơ quan chức năng bảo đảm cung ứng đầy đủ các nhu yếu phẩm cho người dân, qua đó ngăn chặn tình trạng đầu cơ, tích trữ. Hiện tượng tăng giá một số mặt hàng thiết yếu (nhất là khẩu trang) chỉ diễn ra trong một thời gian ngắn, sau đó có sự điều chỉnh hợp lý từ phía các cơ quan chức năng và doanh nghiệp. Tình hình an ninh trật tự được giữ vững, trong đó, tai nạn giao thông tiếp tục được kéo giảm; các loại tội phạm được kiềm chế; đặc biệt là các hoạt động chống phá của các thế lực thù địch, các phần tử phá hoại được phát hiện và xử lý kịp thời…

Tiếp tục lãnh đạo thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội

Do tác động của dịch bệnh, số người yếu thế trong xã hội bị tác động khá nặng nề… Lãnh đạo thành phố đã chỉ đạo chi hàng trăm tỉ đồng để hỗ trợ những người bị ảnh hưởng do dịch Covid-19, trong đó có người lao động tự do, giáo viên các trường tư thục, người bán vé số, người lao động bị giảm việc, mất việc do dịch, người buôn bán nhỏ, người có công, các nhóm thuộc diện bảo trợ xã hội…

Đặc biệt, hệ thống chính trị của thành phố đã khơi gợi, huy động và làm lan tỏa tinh thần tương thân tương ái, yếu tố nghĩa tình của người dân thành phố trong việc giúp đỡ nhau vượt qua khó khăn trong đại dịch. TPHCM là nơi khởi phát những mô hình tiêu biểu, như tặng khẩu trang, nước rửa tay, dung dịch khử khuẩn miễn phí, các trạm ATM gạo, ATM thực phẩm miễn phí dành cho người nghèo, các hoạt động “giải cứu” nông sản…

Hay trong đợt cao điểm ủng hộ đồng bào miền Trung khắc phục thiệt hại sau thiên tai, người dân thành phố cũng đã nhiệt tình vận động, quyên góp thông qua các kênh chính thức và một số hoạt động mang tính tự phát. Có thể nói, đây là một trong những lần tinh thần nghĩa tình của thành phố được thể hiện rất đậm nét và cụ thể, góp phần giúp bà con các nơi khắc phục khó khăn, tiếp tục vươn lên trong cuộc sống.

Giải quyết có hiệu quả một số vụ việc nổi bật

Vượt qua những khó khăn do dịch bệnh và suy thoái kinh tế, TPHCM vẫn tiếp tục thực hiện nhiều chủ trương lớn có hiệu quả. Trong đó, việc xây dựng thành phố thông minh tiếp tục được duy trì bằng nhiều mô hình tích cực, như các ứng dụng giải quyết trực tuyến các yêu cầu của người dân được nhiều địa phương, cơ quan đưa vào sử dụng; mô hình giải quyết hồ sơ hành chính trực tuyến được nhiều cơ quan hành chính thực hiện hiệu quả, nhất là trong đợt cao điểm phòng chống dịch Covid-19; một số mô hình trường học thông minh, bệnh viện thông minh, giao thông thông minh… tiếp tục được cải tiến và mở rộng…

Đặc biệt, thành phố Thủ Đức đã được thành lập và đi vào hoạt động sau khi Ủy ban Thường vụ Quốc hội thông qua với số phiếu tuyệt đối. Đây là đô thị sáng tạo, tương tác cao phía Đông thành phố với 3 trục chính là khu đô thị mới Thủ Thiêm, Khu Công nghệ cao và Đại học Quốc gia TPHCM. Đồng thời, mô hình chính quyền đô thị cũng được Quốc hội thông qua. Đây là tiền đề quan trọng để TPHCM tiếp tục thực hiện các chính sách đặc thù nhằm phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong thời gian tới.

Trong năm, nhiều vụ việc nổi cộm như vấn đề Thủ Thiêm hay các vụ sai phạm có liên quan đến một số lãnh đạo, nguyên lãnh đạo thành phố, các vi phạm về trật tự xây dựng trên địa bàn… đã được tiếp tục xử lý, tạo được sự đồng thuận trong nhân dân…

*

Có thể nói, trong bối cảnh rất khó khăn chung, sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố trong năm 2020 là rất to lớn, góp phần tạo nên các điểm sáng của thành phố nói chung và của Đảng bộ thành phố nói riêng. Đó là những tiền đề quan trọng để TPHCM tiếp tục có những bước phát triển mạnh mẽ hơn nữa trong năm 2021.

Vân Tâm

 

Sự truyền bá chủ nghĩa Marx – Lenin vào Việt Nam và sự tất yếu ra đời của Đảng Cộng sản

Tranh vẽ thể hiện Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản và thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam được tổ chức tại Hongkong (Trung Quốc) từ ngày 6/1 đến 7/2/1930, dưới sự chủ trì của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc

(Stxdd.Thanhuytphcm.vn) - Thời gian qua, một số thế lực thù địch đã rêu rao rằng: sự du nhập chủ nghĩa Marx - Lenin với học thuyết đấu tranh giai cấp gây ra cảnh “huynh đệ tương tàn” suốt mấy chục năm là một lầm lỗi lịch sử; chủ nghĩa Marx - Lenin là hệ tư tưởng ngoại lai, không thích hợp với điều kiện Việt Nam... Ta phải khẳng định ngay rằng, chủ nghĩa Marx - Lenin được truyền vào Việt Nam là kết quả khách quan trong quá trình vận động của các yếu tố lịch sử trong và ngoài nước. Theo GS. Trần Văn Giàu, “Nguyễn Ái Quốc, các bạn chiến đấu và học trò của Nguyễn đã thành công lớn trong việc truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin vào Việt Nam những năm 1920, trước hết nhờ giá trị phổ biến của chủ nghĩa Marx - Lenin; lý do quan trọng khác là nhờ các đồng chí đó nắm được hay được thúc đẩy bởi những điều kiện khách quan thuận lợi của xã hội Việt Nam, của Đông Dương sau chiến tranh thế giới, lấy đó làm tiền đề cho mọi sự hoạt động truyền bá của mình”[1].

 

Có những điều kiện khách quan của sự truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin vào Việt Nam. Đó là:

Thứ nhất, sự phát triển số lượng của giai cấp công nhân và phát triển của phong trào công nhân trong những năm 1920. Công nhân Việt Nam đã hình thành một giai cấp “tự mình” trong thời kỳ khai thác thuộc địa lần I của thực dân Pháp ở Đông Dương. Đến thời kỳ khai thác lần II (từ sau Thế chiến I đến trước đại khủng hoảng 1929 - 1933), số lượng giai cấp công nhân tăng lên 4 - 5 lần. Về hình thức đấu tranh, trước Thế chiến I, thường là bỏ trốn, phá hoại công trường, giết chủ, đánh cai, ít khi bãi công; sau đó là biểu tình, bãi công; tự phát có tổ chức, trước thì có tính chất thuần túy kinh tế, xã hội, sau có tính chất chính trị, cách mạng. Phong trào công nhân Việt Nam tuy mới nổi nhưng đã tỏ ra lớn mạnh, chuyển mau từ tự phát đến tổ chức, đồng thời mang các dấu ấn giai cấp, dân tộc và quốc tế chủ nghĩa.

Thứ hai, sự phân hóa giai cấp ở nông thôn Việt Nam và sẵn sàng chờ đợi một đảng cách mạng. Sự bóc lột tàn tệ của bọn địa chủ, theo từng mùa có một sự di chuyển hàng chục vạn công nhân giá rẻ, thất nghiệp từ nhà quê lên tỉnh, từ vùng này sang vùng khác, tỉnh khác, số công nhân này không tập trung nhưng hết sức đông đảo, họ như một cái gạch nối liền giữa nông dân và công nhân thành thị.

Thứ ba, phong trào dân tộc dân chủ giữa những năm 1920; các giai cấp ở thành thị. Sự đô thị hóa diễn ra khá nhanh chóng khi người Pháp hoàn thành việc xâm chiếm. Giai cấp công nhân tăng, giai cấp tư sản dân tộc hình thành cạnh tranh với tư sản Hoa kiều đang chiếm ưu thế.

Các yếu tố khách quan trong việc truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin vào Việt Nam được sự tham gia tích cực của giai cấp nông dân, đặc biệt là lực lượng trí thức, chứ không chỉ ở giai cấp công nhân chứ không phải do sự biến động xã hội từ tác động của các cuộc khai thác thuộc địa. Theo GS. Trần Văn Giàu, “có một số nước Nho giáo, Phật giáo mà sự truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin đạt kết quả không cao, điều đó nói lên sự thành bại còn tùy nhiều điều kiện khác nữa, nhất là con người, đoàn thể làm việc truyền bá đó”[2]. Tức là, điều kiện khách quan chỉ là điều kiện cần, còn điều kiện đủ phải là con người và tổ chức làm việc truyền bá đó.

Điều này khẳng định vai trò của Hồ Chí Minh trong một hoạt động có tính bước ngoặt của cách mạng Việt Nam, đó là việc truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin vào nước ta. “Sau khi tìm được con đường cứu nước đúng đắn cho dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã xúc tiến hoạt động lý luận và thực tiễn nhằm truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin về nước. Việc truyền bá của Người diễn ra liên tục từ năm 1921 đến năm 1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đánh dấu sự chiến thắng bước đầu của tư tưởng cộng sản chủ nghĩa trong lịch sử tư tưởng nước ta”[3]

Có thể tóm tắt quá trình này như sau:

Thời kỳ Paris - Sự khởi đầu của quá trình. Trên đất Pháp, Nguyễn Ái Quốc vừa tìm đường vừa hoạt động truyền bá tư tưởng cứu nước. Cột mốc quan trọng là sự kiện Nguyễn Ái Quốc tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp và đứng hẳn về phía Quốc tế III, ngày 25-12-1920. Một trong những hoạt động tiêu biểu nhất của Người trong giai đoạn này là tham gia sáng lập Hội Liên hiệp Thuộc địa và sau đó xuất bản tờ báo Le Paria làm cơ quan ngôn luận của mình.

Thời kỳ Moskva - phác thảo chiến lược của cách mạng Việt Nam. Sự xuất hiện của Nguyễn Ái  Quốc tại Đại hội I Quốc tế Nông dân ở Moskva ngày 13-10-1923 được coi là cuộc “gặp gỡ” giữa Quốc tế Cộng sản và Nguyễn Ái Quốc, người đang muốn mở đường đưa chủ nghĩa Marx - Lenin đến với xứ sở mình. “Sự kiện đó minh chứng rõ ràng con đường đưa chủ nghĩa Marx - Lenin từ Moskva, từ Quốc tế Cộng sản đã được khai thông. Người khai  mở con đường đó chính là Nguyễn Ái Quốc”[4].

Thời kỳ Quảng Châu - vùng Đông Bắc Xiêm, bắt tay xây dựng tổ chức. Ở Quảng Châu, Nguyễn Ái Quốc xây dựng tổ chức cách mạng tuần tự theo từng bước - từ tiếp xúc tìm hiểu những người yêu nước Việt Nam đang hoạt động ở miền Nam Trung Quốc đến việc thành lập một nhóm bí mật là Cộng sản đoàn làm hạt nhân, cuối cùng là thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên. Thời gian này, Người thường xuyên đặt quan hệ với Ban Thư ký Tổng Công hội Thái Bình Dương, Liên đoàn Chống chủ nghĩa đế quốc, vì độc lập tự do, tham gia sáng lập Hội Liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông...

Từ các dẫn dắt ở trên, chúng ta có thể rút ra mấy nhận xét:

Một là, sự truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin vào Việt Nam là một quá trình lâu dài, liên tục, đầy cam go, thử thách, bằng nhiều hình thức sinh động, phong phú. Trong bối cảnh có rất nhiều luồng tư tưởng, nhiều dòng cách mạng đan xen, với hình thức là đấu tranh giành độc lập, thì sự lựa chọn một hệ tư tưởng nào, một hình thức cách mạng nào hoàn toàn không phải là tự nhiên. Đồng thời, ngay tại trong nước, do nhu cầu rất cao về giải phóng dân tộc, bản thân các tầng lớp nhân dân luôn có ý thức chọn lựa hệ tư tưởng nào đó có thể đáp ứng được nhu cầu này. Do đó, chủ nghĩa Marx - Lenin muốn xâm nhập, tồn tại và phát triển phải thể hiện được tính ưu việt và tính hấp dẫn thực sự đối với nhân dân Đông Dương nói chung và nhân dân Việt Nam nói riêng.

Hai là, nếu xem các yếu tố khách quan là điều kiện cần, nhưng không có điều kiện đủ là những hoạt động không ngừng nghỉ của Hồ Chí Minh thì không thể đưa chủ nghĩa Marx - Lenin vào Việt Nam như cách nó đã từng diễn ra; ngược lại, nếu chỉ có vai trò cá nhân mà thiếu các điều kiện khách quan thì chủ nghĩa Marx - Lenin cũng không thể “bén rễ” ở nước ta. Sự kỳ công của Hồ Chí Minh và những người cộng sản đã giúp chủ nghĩa Marx - Lenin thực sự tồn tại và phát triển ở Việt Nam, tiến tới thành lập được Đảng Cộng sản Việt Nam.

Ba là, chủ nghĩa Marx - Lenin được truyền bá và “sống được” ở xã hội Việt Nam trong những năm 1920 thực sự chỉ bền vững khi đã hình thành được đảng cách mạng, chính là Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi không có Đảng thì các tư tưởng về cách mạng vô sản không được triển khai và thực thi thành những hành động cụ thể, đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Xét nhiều góc độ, sự truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin và sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là một tất yếu lịch sử, nhưng sự tất yếu đó hoàn toàn không phải là điều đương nhiên sẽ đến. Bởi trong bối cảnh phức tạp về chính trị, xã hội vào thời điểm đó, những hệ tư tưởng thiết thực, lấy nhân dân làm mục tiêu và động lực sẽ giành được ưu thế nhưng cũng cần những cá nhân dám hi sinh và có năng lực tổ chức.

Bốn là, chúng ta có thể mạnh mẽ bác bỏ các quan điểm sai trái cho rằng chủ nghĩa Marx - Lenin, chủ nghĩa cộng sản là “một sự áp đặt” hay Đảng Cộng sản Việt Nam “độc quyền yêu nước” và “độc quyền lãnh đạo”… Trước chủ nghĩa Marx - Lenin và Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, đã có nhiều hệ tư tưởng khác, nhiều đảng phái khác tồn tại, thu hút được một bộ phận nhân dân tham gia, hưởng ứng, thậm chí đã có những hành động cụ thể để giành độc lập, nhưng tất cả đều không thành công. Bên cạnh tính cách mạng và khoa học của chủ nghĩa Marx - Lenin, tính thời đại của chủ nghĩa cộng sản, khi được cụ thể hóa thành một thực thể lãnh đạo nhân dân thực hiện lý tưởng đó của chủ nghĩa Marx - Lenin, của chủ nghĩa cộng sản thì phải thông qua những cá nhân xuất sắc.

Năm là, từ đây, rút ra một bài học sâu sắc: chủ nghĩa cộng sản đã được xác nhận là tương lai, là khát vọng muôn đời của nhân loại, nhưng quá trình lãnh đạo để đi đến thành công cần phát huy vai trò chủ động, tích cực của các đảng cộng sản. Vì một đảng mà dù bất kỳ lý do nào không còn trung thành với lý tưởng cộng sản, không thực sự đại diện cho nguyện vọng và lợi ích chính đáng của nhân dân, không còn sự “sáng trong” về tư tưởng, đạo đức, không thể hiện được năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu thì bản thân đảng đó sẽ mất dần sự tin yêu của nhân dân, mất dần vai trò lãnh đạo, dẫn dắt.

Trong hơn 90 năm qua, Đảng Cộng sảnViệt Nam từng bước lớn mạnh và phát triển, không chỉ đủ sức lãnh đạo nhân dân ta làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám, giành thắng lợi trong hai cuộc kháng chiến vĩ đại mà còn lập nên những thành tựu có ý nghĩa lịch sử trong công cuộc đổi mới hiện nay. Từ đó, cũng đặt ra yêu cầu và trách nhiệm của Đảng đối với con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Chúng ta phải kiên định với con đường đã chọn nhưng trong tiến trình đó cần phải tiếp tục đổi mới, chỉnh đốn để tổ chức bộ máy của Đảng luôn được vận hành một cách linh hoạt, hiệu quả để thực hiện thành công mục tiêu lớn lao đó!

Nguyễn Minh Hải

-------------------------

[1] Tập III của bộ Sự phát triển của tư tưởng ở Việt Nam từ thế kỷ XIX đến Cách mạng tháng Tám, mang tên Thành công của chủ nghĩa Marx - Lenin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh, năm 1993, tr.51.

[2] Sđd, tr.62.

[3] PGS.TS. Phạm Xanh, Nguyễn Ái Quốc với việc truyền bá chủ nghĩa Marx - Lenin ở Việt Nam (1921 - 1930), Nxb. Chính trị Quốc gia, 2009; dẫn theo báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, cập nhật ngày 12-10-2016.

[4] PGS.TS. Phạm Xanh, tài liệu đã dẫn.

 Kỷ niệm 91 năm ngày thành lập Đảng (3/2/1930 – 3/2/2021)

Đảng luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu

Phiên bế mạc Đại hội XIII của Đảng. (Ảnh: Thanhuytphcm.vn)

(Thanhuytphcm.vn) - Trong bài phát biểu tại lễ kỷ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng, 3/2/1930 – 3/2/2020, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nêu nhiều truyền thống quý báu của Đảng ta trong suốt gần một thế kỷ qua, trong đó có truyền thống gắn bó máu thịt giữa Đảng và nhân dân, luôn luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu. Đây có thể coi là một đúc kết sâu sắc mà cũng là một định hướng mang tính bất biến của Đảng ta trong các chặng đường phát triển.

Nhìn lại lịch sử, trong lúc các phong trào yêu nước, đấu tranh giành độc lập đều thất bại thì Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Chủ nghĩa tư bản nói chung và thực dân Pháp ở Việt Nam nói riêng đều luôn lo lắng về “bóng ma cộng sản”, bấy giờ vốn không chỉ xuất hiện ở đất nước Liên Xô vĩ đại mà còn hiển hiện ở nhiều nước tư bản khác. Cho nên, thực dân Pháp đã tìm mọi cách bóp chết các mầm mống của chủ nghĩa cộng sản từ trong trứng nước. Thế nhưng, ngay từ lúc mới ra đời, Đảng đã thể hiện rõ mình không có lợi ích nào khác ngoài việc giúp nhân dân thoát khỏi đời nô lệ, giúp đất nước giành được độc lập; bao lớp đảng viên vì mục tiêu đó mà không e sợ tù đày, giết chóc. Các đợt khủng bố trắng sau cao trào 1930 – 1931 hay ngay trước Thế chiến II, và nhất là sau khởi nghĩa Nam kỳ, tưởng chừng Đảng không thể gượng dậy nổi, nhưng chỉ 5 năm sau, tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám bùng lên, khai sinh ra nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam châu Á, nhà nước do nhân dân lao động làm chủ.

Trong suốt 30 năm sau đó (1945 – 1975), Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đánh đuổi hai đế quốc sừng sỏ bậc nhất nhân loại là Pháp và Mỹ để giành lại tự do, độc lập cho nhân dân. Có những thời kỳ đen tối (nhất là từ sau Hiệp định Genève đến trước Đồng khởi), cán bộ, đảng viên bị kẻ thù đuổi cùng giết tận nhưng nhờ dựa vào dân, bằng vào các chủ trương, hoạt động mang lại lợi ích thiết thực cho nhân dân mà cán bộ cách mạng được chở che, bảo vệ; các tổ chức đảng từng bước được phục hồi và phát triển. Với các hoạt động cụ thể bảo vệ dân khỏi cảnh bị cướp đất chiếm nhà hay rộng hơn là tổ chức cho nhân dân đấu tranh giành các quyền tự do, dân chủ, Đảng đã tiếp tục được nhân dân tin tưởng, ủng hộ. Nhờ đó, các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm đã giành được thắng lợi hoàn toàn.

Nhà thơ Tố Hữu đã viết trong Ba mươi năm đời ta có Đảng (năm 1960): “Đảng ta sinh ở trên đời/ Một hòn máu đỏ nên Người hôm nay”. Hôm nay, Đảng thực sự đã trở thành người khổng lồ!

Từ ngày thống nhất đất nước, nhất là từ khi đổi mới đến nay, Đảng đã lãnh đạo nhân dân đạt được “thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ, toàn diện so với những năm trước đổi mới” như Đại hội XIII của Đảng đã khẳng định. Vị thế của đất nước được nâng cao trên trường quốc tế; chất lượng sống của nhân dân được cải thiện rõ rệt; diện mạo các mặt của đời sống xã hội được thay đổi toàn diện; quy mô và tiềm lực về kinh tế, chính trị, văn hóa, quân sự… không ngừng được nâng cao… Nhiều năm trước, không ít người chỉ mong Việt Nam ngày nào đó không còn là nước kém phát triển thì nay chúng ta đang hướng đến mục tiêu trở thành nước phát triển, trong đó định hướng đến năm 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, Việt Nam sẽ trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Viễn cảnh đó hoàn toàn dựa trên những cơ sở thực tiễn chắc chắn, với những luận chứng như, tăng trưởng kinh tế của nước trong nhiều năm qua luôn nằm trong nhóm hàng đầu thế giới, uy tín của nền chính trị và kinh tế của đất nước được cải thiện mạnh mẽ, sức hấp dẫn của Việt Nam về nhiều mặt không ngừng được tăng cao, sự đồng lòng, đoàn kết của Nhà nước và nhân dân được thể hiện rõ nét… Như vậy, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã dần lớn mạnh, dần sánh vai với các cường quốc năm châu.

Tất cả những điều đó đều xuất phát từ một nguyên nhân hết sức quan trọng: Đảng đã luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu nên đã được nhân dân tin tưởng, ủng hộ, đồng hành.

Ngay trong lúc đại dịch Covid-19 đang diễn biến phức tạp, yếu tố “phục vụ nhân dân” càng được thể hiện rõ nét. Những việc như “giải cứu” người Việt Nam bị kẹt ở nước ngoài, ra sức cứu chữa người bị nhiễm bệnh, nỗ lực khoanh vùng và dập dịch bằng mọi phương tiện có thể, chấp nhận hy sinh tăng trưởng kinh tế để bảo vệ sức khỏe và tính mạng người dân, tích cực giúp đỡ những người bị ảnh hưởng do dịch… đã thể hiện rõ tính chất vì nhân dân của Đảng ta. Từ đó, thế giới đánh giá Nhà nước ta là một trong những chính thể nhân văn bậc nhất thế giới.

Tuy nhiên, trên thực tế, có lúc, có nơi, một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa thể hiện rõ tinh thần phục vụ nhân dân, như đã được Đảng ta nhìn nhận tại Đại hội XIII: “Việc phát hiện, xử lý tham nhũng, lãng phí vẫn còn hạn chế, tự kiểm tra, tự phát hiện và xử lý tham nhũng, lãng phí trong nội bộ, cơ quan, đơn vị còn yếu; tình trạng nhũng nhiễu, tiêu cực trong khu vực hành chính, dịch vụ công chưa được đẩy lùi. Tham nhũng, lãng phí trên một số lĩnh vực, địa bàn vẫn còn nghiêm trọng, phức tạp, với những biểu hiện ngày càng tinh vi, gây bức xúc trong xã hội”. Các biểu hiện cụ thể của hiện tượng này là trong việc giải quyết các yêu cầu hợp pháp, chính đáng của người dân còn thái độ ban phát, kẻ cả, thậm chí còn hoạnh họe, nhũng nhiễu… Điều này cần được khắc phục triệt để.

Nhiều năm qua, Đảng ta phát động trong toàn thể cán bộ, đảng viên phải nỗ lực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trên tinh thần ra sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân, đến nay đã có những chuyển biến quan trọng. Dẫu vậy, để tiếp tục khẳng định uy tín của Đảng trước nhân dân, mỗi cán bộ, đảng viên phải luôn thực hành lời dạy của Bác Hồ một cách nghiêm túc: Việc gì có lợi cho dân ta phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân ta phải hết sức tránh. Đây nên xem là một kim chỉ nam định hướng cho vấn đề phục vụ nhân dân!

Vân Tâm

 

Nhân sự mới trong tháng 12/2020 và 1/2021 (từ ngày 21/11/2020 đến 31/1/2021)

STT

Họ và tên

Chức vụ cũ

Chức vụ mới

1

Nguyễn Văn Nên

Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy

Bí thư Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy, Bí thư Đảng ủy Quân sự thành phố

2

Lê Thanh Liêm

Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch Thường trực UBND thành phố

Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng ban Nội chính Thành ủy

3

Lê Hòa Bình

Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Giám đốc Sở Xây dựng

Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Ủy viên Ban Cán sự đảng, Phó Chủ tịch UBND thành phố

4

PhanThị Thắng

Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch HĐND thành phố

Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Ủy viên Ban Cán sự đảng, Phó Chủ tịch UBND thành phố

5

Phạm Quỳnh Anh

Trưởng ban Pháp chế HĐND thành phố

Ủy viên Đảng đoàn HĐND thành phố, Trưởng ban Pháp chế HĐND thành phố

6

Lương Quốc Chiến

Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Trưởng ban Tổ chức Đảng ủy Công ty Đầu tư tài chính nhà nước thành phố

Phó Bí thư Đảng ủy Công ty Đầu tư tài chính nhà nước thành phố

7

Trần Quang Minh

Ủy viên Ban Thường vụ Đảng ủy, Phó Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn - TNHH MTV

Phó Bí thư Đảng ủy, Tổng Giám đốc Tổng Công ty Cấp nước Sài Gòn - TNHH MTV

8

Dương Trí Dũng

Trưởng phòng Kế hoạch - Tài chính, Sở Giáo dục và Đào tạo

Phó Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo

9

Phan Ngọc Phúc

Chánh Thanh tra Sở Quy hoạch - Kiến trúc

Phó Giám đốc Sở Quy hoạch - Kiến trúc

10

Nguyễn Trần Phú

Trưởng Phòng quản lý Ngân sách, Sở Tài chính

Phó Giám đốc Sở Tài chính

11

Phan Văn Quang

Chủ tịch Hội đồng Thành viên Tổng Công ty Bến Thành - TNHH MTV

Bổ nhiệm lại chức vụ

12

Lê Công Đồng

Giám đốc Đài Tiếng nói nhân dân thành phố

Bổ nhiệm lại chức vụ

13

Nguyễn Văn Hiếu

Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Bí thư Quận ủy quận 5

Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Bí thư Thành ủy thành phố Thủ Đức

14

Nguyễn Mạnh Cường

Thành ủy viên, Bí thư Quận ủy Thủ Đức

Thành ủy viên, Bí thư Quận ủy quận 5

15

Hoàng Tùng

Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện Nhà Bè

Phó Bí thư Thành ủy, Chủ tịch UBND thành phố Thủ Đức

16

Phạm Đức Châu Trần

Phó Tham mưu trưởng Bộ Tư lệnh thành phố

Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chỉ huy trưởng Ban Chỉ huy Quân sự thành phố Thủ Đức.

17

Trần Hữu Phước

Ủy viên Đảng đoàn, Phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố

Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chủ tịch ban MTTQ Việt Nam thành phố Thủ Đức

18

Kiều Ngọc Vũ

Ủy viên Đảng đoàn, Phó Chủ tịch Liên đoàn Lao động thành phố

Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Trưởng ban Tuyên giáo Thành ủy thành phố Thủ Đức

19

Nguyễn Kỳ Phùng

Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ

Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Phó Chủ tịch UBND thành phố Thủ Đức

20

Cao Thanh Bình

Phó Trưởng ban Kinh tế - Ngân sách HĐND thành phố

Chánh Văn phòng Đoàn Đại biểu Quốc hội và HĐND thành phố

21

Lê Hoàng Minh

Chủ tịch Hội đồng Thành viên Công ty TNHH MTV Phát triển công nghiệp Tân Thuận

Miễn nhiệm chức Chủ tịch Hội đồng Thành viên Công ty TNHH MTV Phát triển Công nghiệp Tân Thuận

22

Nguyễn Ngọc Nam

Trưởng Công an huyện Hóc Môn

Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy, Trưởng Công an huyện Hóc Môn

23

Lại Phước Xuân

Trưởng Công an quận Tân Phú

Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy, Trưởng Công an quận Tân Phú

24

Bùi Thị Ngọc Hiếu

Ủy viên Ban Thường vụ Quận ủy, Phó Chủ tịch UBND quận 7

Phó Giám đốc Sở Du lịch

25

Nguyễn Thị Bé Ngoan

Quận ủy viên, Bí thư Đảng ủy phường Bình Thuận, quận 7

Quận ủy viên, Phó Chủ tịch UBND quận 7

26

Tăng Phước Lộc

Phó Chánh Văn phòng Thành ủy

Phó Trưởng ban Dân tộc thành phố

27

Trần Thị Bích Trâm

Quận ủy viên, Trưởng phòng Kinh tế quận 11

Quận ủy viên, Phó Chủ tịch UBND quận 11

28

Võ Thị Chính

Quận ủy viên, Trưởng phòng Kinh tế quận 12

Quận ủy viên, Phó Chủ tịch UBND quận 12

29

Lê Ngọc Hùng

Trưởng ban Điều hành dự án Đường bộ 2 thuộc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông

Phó Giám đốc Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng các công trình giao thông

30

Nguyễn Văn Y

Trưởng phòng Quản lý đào tạo, Học viện Cán bộ thành phố

Phó Giám đốc học viện Cán bộ thành phố


TIN MỚI

[recent][column list pagenumber]

MKRdezign

Author Name

{picture#Your_Profile_Picture-Url} {Facebook#Your_Social_Profile_Url} {Twitter#Your_Social_Profile_Url} {Google#Your_Social_Profile_Url} {Pinterest#Your_Social_Profile_Url} {Youtuber#Your_Social_Profile_Url} {Instagram#Your_Social_Profile_Url} {Zalo#Your_Social_Profile_Url}

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.
Javascript DisablePlease Enable Javascript To See All Widget